Categories
Thương mại điện tử

Thương mại điện tử với chìa khoá chứng thực số

Hiện nay, một số đơn vị doanh nghiệp và ngân
hàng tại
Việt Nam đã bắt đầu chú ý tới các hình thức thanh toán điện
tử qua
Internet, và sử dụng các công cụ xác thực như chữ ký số như
một biện
pháp tiện lợi, an toàn, giảm chi phí và thủ tục giao dịch.

Tuy
nhiên, do chưa nắm rõ về chứng thực số và các
khái niệm về thanh
toán trực tuyến, nhiều doanh nghiệp, tổ chức, vẫn tỏ
ra thận trọng và
chưa triển khai các hình thức chứng thực số và thanh
toán trực
tuyến. Nhất là khi hiện tại, Việt Nam chưa có luật thương mại
điện
tử, và cũng đang có rất nhiều tranh luận quanh vấn đề Chữ

ký điện tử trong Luật Giao dịch điện tử. Để giúp
các
doanh nghiệp, tổ chức trong nước có thêm thông tin về vấn đề này,Vietnamnet

xin được giới thiệu một số khái niệm về chữ ký điện tử và vai trò của

trong thương mại điện tử.

Khái quát về chữ ký điện tử

Chữ

ký điện tử là thuật ngữ chỉ mọi phương thức khác
nhau để
một cá nhân, đơn vị có thể "ký
tên" vào một dữ liệu điện tử,
thể hiện sự
chấp thuận và xác nhận tính nguyên bản của nội dung dữ
liệu đó.
 
Chữ
ký điện tử rất đa dạng, có thể là một tên hoặc hình ảnh cá nhân kèm
theo
dữ liệu điện tử, một mã khoá bí mật, hay một dữ liệu sinh trắc học
(chẳng
hạn như hình ảnh mặt, dấu vân tay, hình ảnh mống mắt…) có khả
năng
xác thực người gửi.

Trong giao dịch điện tử hiện nay
trên thế giới, chữ ký số
là hình thức chữ ký điện tử phổ
dụng nhất. Chữ ký số bao gồm một cặp mã
khoá, gồm khoá bí mật và
khoá công khai. Trong đó, khoá bí mật được
người gửi sử dụng để ký
(hay mã hoá) một dữ liệu điện tử, còn khoá công
khai được người nhận
sử dụng để mở dữ liệu điện tử đó và xác thực danh
tính người gửi.

Khái
niệm chữ ký
số, hay các phương thức xác thực danh tính nói chung, được
thực hiện
trong các giao dịch điện tử được gọi chung là khái niệm chứng
thực số
(Digital Certificate). Chứng thực số
bao hàm cả
hình thức xác thực của một cá nhân như chữ ký, xác thực
của tổ chức như
các website (là thật, không phải giả mạo), dịch vụ
thương mại điện tử,
kể cả chứng thức tính nguyên bản của các phần
mềm.

Ứng dụng
của chứng thực số

Một
e-mail có thể được ký bằng chữ ký điện tử, đảm
bảo người nhận có thể
chắc chắn rằng đó đúng là e-mail của người gửi,
chứ không phải
e-mail giả mạo. Để làm được điều này, người gửi và người
nhận sẽ phải
sử dụng cùng một hệ thống chứng thực số, do

Trong
thực tế, hình các
chứng thực số được sử dụng nhiều nhất trong các
giao dịch thương mại
điện tử, đặc biệt trong các hoạt động thanh toán
trực tuyến của ngân
hàng. Một website dịch vụ ngân hàng có thể khẳng
định về tính xác thực
của mình với những người truy cập vào bằng
cách sử dụng một hình thức
chứng thực số, đảm bảo website đó không
phải là giả mạo. 

Người sử dụng, ngoài
hình thức bảo mật thông
thường như mật khẩu, cũng phải dùng một chứng
thực số cá nhân để khẳng
định danh tính của mình, xác nhận các hoạt
động giao dịch của mình với
dịch vụ ngân hàng. Chứng thực số sẽ giúp
ngân hàng đảm bảo các khách
hàng không thể chối cãi các giao dịch của
mình, khi họ đã dùng chứng
thực số.

Các

hoạt động liên ngân hàng (như chuyển khoản, thanh toán..) trong giao
dịch
điện tử cũng đều phải sử dụng chứng thực số để xác định rõ danh
tính
của mỗi bên, khẳng định trách nhiệm và các hoạt động của từng bên
trong
giao dịch. Đây là quy trình bảo mật quan trọng, cũng như cơ sở về
mặt
pháp lý để căn cứ khi thực hiện các hoạt động giao dịch trực tuyến.

Không
chỉ nằm
trong lĩnh vực thương mại điện tử, chứng thực số hiện còn được
sử
dụng như một dạng chứng minh thư cá nhân. Tại các nước công nghệ phát

triển, chứng thực số CA được tích hợp vào các chip nhớ nằm trong thẻ
căn
cước, thẻ tín dụng để tăng cường khả năng bảo mật, chống giả mạo,
cho
phép chủ thẻ xác thực danh tính của mình trên nhiều hệ thống khác
nhau,
chẳng hạn như xe bus, thẻ rút tiền ATM, kiểm soát hải quan, ra vào

chung cư .v.v.

Giá
trị pháp lý 

Trong
các hoạt động thương mại điện tử trên thế giới,
chứng thực số

Với các đặc điểm nổi
bật
như không thể giả mạo, chứng thực nguồn gốc xuất xứ, các quốc
gia phát
triển đều đã sử dụng chứng thực số như một bằng chứng pháp
lý từ rất
sớm. Đây là yếu tố rất quan trọng để có thể phát triển
thương mại điện
tử, vì không ai dám mạo hiểm với tiền của mình, khi
họ chưa chắc chắn
được rằng các hoạt động đó có được đảm bảo, và có
được pháp luật công
nhận hay không.

Hiện
tại, Việt Nam cũng
đang gấp rút xây dựng Pháp
lệnh
Thương mại điện tử
(do Bộ
Thương mại chủ trì), Nghị định
của
Chính phủ về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ chứng thực điện tử

(Bộ Bưu chính – Viễn thông chủ
trì), Nghị định của Chính phủ quy
định
việc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng mật mã không thuộc phạm vi bí
mật
Nhà nước
(Ban Cơ yếu Chính phủ
chủ trì). Tuy nhiên, quá trình xây dựng còn chưa theo
kịp nhu cầu
phát triển và ứng dụng, gây ra nhiều khó khăn trong quá
trình triển
khai thương mại điện tử.

So
với các nước và vùng lãnh
thổ khác tại châu Á, hiện Việt Nam còn
đang khá chậm trễ trong xây dựng
dựng cơ sở pháp lý về giao dịch điện
tử. Malaysia đã ban hành Luật Chữ
ký Số vào năm 1997, Singapore ban
hành Luật Giao dịch điện tử vào năm
1998, Hàn Quốc có Luật Chữ ký
điện tử vào năm 1999 và sửa đổi vào năm
2001, Hong Kong có Sắc lệnh
về Giao dịch điện tử vào năm 2000. Thái Lan
và Nhật Bản cũng đã có
các văn bản luật liên quan đến giao dịch điện tử
vào năm 2001. 

được
sử dụng làm căn cứ xác
định tính hợp pháp, giống như các hình thức
xác thực truyền thống là chữ
ký và con dấu hiện nay. Khi có tranh
chấp về pháp lý trong các hoạt
động điện tử, chứng thực số có giá trị
bằng chứng và căn cứ tương tự như
các hình thức xác thực cũ này.
một
Nhà cung cấp chứng chỉ số
(Certificate
Authority, viết tắt
là CA) cung cấp.

 
Theo
VietNamNet

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *